65. Truyền Pháp Sớ

 

Nguyên văn:

 

傳法

 

伏以

巍巍寶座、寔爲三界之導師、蕩蕩金容、永作四生之慈父、妙術經文、繼世敎傳、萬代芬芳、仰啟佛恩、投于皇覺。拜疏爲

大南國承天府楊春山西天寺奉

佛恭遇阿彌陀佛誕獻供傳燈授記事。今弟子...等、惟日仰干蓮眼俯鑒葵心。

言念、弟子等叨生塵俗、忝預緇流、茫茫火宅以煎熬、徃徃塵勞而染著、歎光陰之易邁、痛生死以難逃、由是皈投大覺、頂禮本師、蕩滌身心、親承受記、冀知非於一念、消業障于多生、履解脫之玄途、證菩提之正果、謹蠲本月是日、詢勤懇切、誠意精虔、謹具疏章、和南拜奏。

伏願、三寶慈悲、密垂護佑、俾弟子等信心堅固、外障無侵、道念精專、內魔不起、菩提樹長、影遮百萬人天、優鉢花開、香滿大千世界、勸善友遞相究竟、願佛法久住流通、凡居四序之中、悉獲萬全之庇。謹疏。

 

Phiên âm:

 

TRUYỀN PHÁP1 SỚ

 

Phục dĩ

Nguy nguy bảo tọa, thật vi Tam Giới chi đạo sư; đãng đãng kim dung, vĩnh tác Tứ Sanh chi từ phụ; diệu thuật kinh văn, kế thế giáo truyền; vạn đại phân phương, ngưỡng khải Phật ân, đầu vu Hoàng Giác.2

Bái sớ vị: Đại Nam Quốc Thừa Thiên Phủ Dương Xuân Sơn Tây Thiên Tự phụng Phật cung ngộ A Di Đà Phật đản hiến cúng truyền đăng thọ ký sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật ngưỡng can Liên Nhãn phủ giám quỳ tâm.

Ngôn niệm: Đệ tử đẳng thao sanh trần tục, thiêm dự chuy lưu;3mang mang hỏa trạch dĩ tiễn ngao, vãng vãng trần lao nhi nhiễm trước; thán quang âm chi dị mại, thống sanh tử dĩ nan đào; do thị quy đầu Đại Giác, đảnh lễ Bổn Sư; đãng địch thân tâm, thân thừa thọ ký; kí tri phi ư nhất niệm, tiêu nghiệp chướng vu đa sanh; lí giải thoát chi huyền đồ, chứng Bồ Đề chi chánh quả; cẩn quyên bổn nguyệt thị nhật, tuân cần khẩn thiết, thành ý tinh kiền; cẩn cụ sớ chương, hòa nam bái tấu.

Phục nguyện: Tam Bảo từ bi, mật thùy hộ hựu; tỷ đệ tử đẳng tín tâm kiên cố, ngoại chướng vô xâm; đạo niệm tinh chuyên, nội ma bất khởi; Bồ Đề thọ trưởng, ảnh già bách vạn nhân thiên; Ưu Bát4 hoa khai, hương mãn đại thiên thế giới; khuyến thiện hữu đệ tương cứu cánh, nguyện Phật pháp cửu trụ lưu thông; phàm cư Tứ Tự chi trung, tất hoạch vạn toàn chi tí. Cẩn sớ.

 

Dịch nghĩa:

SỚ TRUYỀN PHÁP

 

Cúi nghĩ:

Nguy nga tòa báu, thật là Ba Cõi ấy đạo sư; vời vợi dung vàng, mãi làm Bốn Loài ấy cha quý; phép mầu kinh văn, kế thế giáo truyền, muôn đời thơm tho, ngưỡng lạy Phật ơn, quy đầu Đại Giác.

Lạy Sớ tâu: Việc Chùa Tây Thiên tại Dương Xuân Sơn, phủ Thừa Thiên, nước Đại Nam, thờ Phật gặp dịp khánh đản Phật A Di Đà, dâng cúng truyền đăng thọ ký. Nay đệ tử …, hôm nay ngưỡng trông Liên Nhãn, cúi chứng tấc thành.

Nép nghĩ: Đệ tử … sanh chốn trần tục, thẹn làm tăng thân; mênh mang nhà lửa luôn đốt thiêu, vĩnh viễn trần lao mà nhiễm trước; tiếc thời gian trôi qua mãi, xót sanh tử trốn khó thay; do vậy quy đầu Đại Giác, đảnh lễ Bổn Sư; rửa sạch thân tâm, vâng tuân thọ ký; đã biết sai trong một niệm, tiêu nghiệp chướng suốt nhiều đời; bước giải thoát ấy con đường, chứng Bồ Đề ấy chánh quả; chọn đúng tháng nầy ngày ấy, ân cần khẩn thiết, thành ý tinh chuyên; kính đủ sớ chương, kính thành tâu lạy.

Cúi mong: Tam Bảo từ bi, thầm thương gia hộ; khiến đệ tử … tín tâm kiên cố, ngoại chướng không xâm; đạo niệm tinh chuyên, nội ma không khởi; Bồ Đề cây lớn, bóng rợp trăm vạn trời người; Ưu Đàm hoa khai, hương ngát đại thiên thế giới; khuyên thiện hữu tiến dần cứu cánh, nguyện Phật pháp trụ mãi lưu thông; phàm sống ở trong bốn mùa, thảy được vạn toàn che chở. Kính dâng sớ.

 

Chú thích:

  1. Truyền pháp (傳法): về nghĩa rộng, chỉ cho việc truyền thọ Phật pháp; về nghĩa hẹp, đặc biệt chỉ sự truyền thừa pháp mạch, hoặc nghi thức truyền trao chánh pháp. Đối với Mật Giáo, phép Quán Đảnh truyền thọ bí pháp được gọi là Truyền Pháp Quán Đảnh (傳法灌頂). Người chỉ dạy cho bí pháp được gọi là Truyền Pháp A Xà Lê (傳法阿闍棃). Thiền Tông đặc biệt rất xem trọng việc truyền pháp, thông thường lấy việc truyền trao y Ca Sa (s: kaāya; p: kāsāya, 袈裟) làm tượng trưng cho việc truyền trao chánh pháp. Xưa nay, việc truyền y nghĩa là lấy y Kim Lan (金襴) làm Pháp Y (法衣), chủ yếu thể hiện tín vật truyền pháp. Đến sau nầy, các bậc tông tượng Thiền Tông chỉ lấy y Ca Sa bình thường để truyền cho đệ tử nối dòng pháp; cho nên từ Truyền Y (傳衣) được chuyển thành Truyền Pháp (傳法), Từ Pháp (嗣法). Tịnh Độ Giáo Nhật Bản lấy pháp Ngũ Trùng Tương Truyền (五重相傳) làm chứng minh cho việc truyền trao pháp mạch. Trong bài thơ Bà Dương Đại Vân Tự Nhất Công Phòng (鄱陽大雲寺一公房) của Cố Huống (顧況, khoảng 725-814) nhà Đường có câu: “Sắc giới liêu truyền pháp, Không môn bất dụng tình (色界聊傳法空門不用情, cõi trần tạm truyền pháp, cửa Không chẳng nể tình).” Trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 29 có dẫn lời nói nổi tiếng của Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma rằng: “Ngô bổn lai tư độ, truyền pháp cứu mê tình, nhất hoa khai ngũ diệp, kết quả tự nhiên thành (吾本來茲土傳法救迷情一花開五葉結果自然成, ta vốn đến cõi nầy, truyền pháp cứu mê tình, một hoa nở năm cánh, kết quả tự nhiên thành).”
  2. Tức Giác Hoàng (皇覺), đảo ngữ để hợp vần bằng trắc với câu trước “ngưỡng khải Phật ân (仰啟佛恩).” Xem chú thích số 2 ở lòng văn Sớ số 43 Yết Tổ Thiên Quan Nhập Tháp Sớ.
  3. Chuy lưu (緇流): từ gọi khác của tăng đồ, tu sĩ. Nguyên lai, tăng ni thường mặc y phục màu đen, nên có tên gọi như vậy. Như trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 16, bài Tế Chơn Tịch Văn Cốc Đại Sư (祭眞寂聞谷大師), có đoạn: “Tảo mộ chơn đế, thâm yếm tục trần, ký nhập chuy lưu, toại bồi huệ chủng (早慕眞諦、深厭俗塵、旣入緇流、遂培慧種, sớm thích giải thoát, chán ghét tục trần, gia nhập tăng thân, bồi hạt giống tuệ).”
  4. Từ gọi tắt của Ưu Đàm Bát La (s: udumbara, 優曇鉢羅): xem chú thích số 2 trong lòng văn Sớ số 28 Từ Dụ Cửu Tuần Đại Khánh Tiết.